Ủy ban nhân dân phường Phạm Ngũ Lão thực hiện tuyên truyền một số quy định về bồi thường của Nhà nước

153

Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV.

Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 gồm  9 chương, 78 Điều.

Một số quy định cơ bản như sau:

1. Về đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường:

Những người đương nhiên có quyền yêu cầu bồi thường, bao gồm: Người bị thiệt hại; Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; Tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự.

Những người có quyền yêu cầu bồi thường theo ủy quyền của những người đương nhiên có quyền yêu cầu bồi thường.

2. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:

a) Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng. Căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng bao gồm:

– Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;

– Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.

– Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

b) Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước.

c) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

3. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

– Trong lĩnh vực quản lý hành chính;

– Trong lĩnh vực tố tụng hình sự;

– Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính

– Trong lĩnh vực thi hành án hình sự;

– Trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

4. Cơ quan giải quyết bồi thường

– Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính;

– Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

– Viện Kiểm sát giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự;

– Tòa án giải quyết bồi thường trọng hoạt động tố tụng hình sự; tố tụng dân sự; tố tụng hành chính;

– Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự;

– Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.

5. Thời gian giải quyết bồi thường: Từ 41 ngày – 71 ngày.

– Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sẽ phải chủ động thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại về việc Nhà nước tổ chức thực hiện phục hồi danh dự mà không phải đợi họ yêu cầu.

– Nếu người bị thiệt hại đồng ý với nội dung thông báo thì cơ quan thông báo thực hiện phục hồi danh dự, nếu không đồng ý thì người bị thiệt hại có ý kiến để cơ quan có cơ sở thực hiện khôi phục danh dự.

– Trường hợp người bị thiệt hại đề nghị chưa thực hiện phục hồi danh dự thì việc này được thực hiện khi người bị thiệt hại có yêu cầu bằng văn bản; trường hợp từ chối thì sẽ không còn quyền yêu cầu nữa.

– Trường hợp người bị thiệt hại chết thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thực hiện việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.

Lê Khánh Tình